Vipassana Dhamma Sota [1]
nằm ở Gurgaon thuộc tiểu bang Haryana sát cạnh Delhi (Ấn Độ). Đi ô tô mất khoảng hơn hai
tiếng. Thiền viện nằm giữa những cánh đồng rộng lớn, làng mạc nghèo nàn với
những nhà xây gạch xi măng tạm bợ, xấu xí.
Nhưng mùa này đồng cải vàng trải
rộng và đây đó những túp lều rơm hình trụ thẫm nâu trong ánh nắng cuối đông khiến cho khung cảnh trở nên
tuyệt đẹp. Cảm giác đầu tiên khi đến thiền viện là bầu không khí đặc biệt nơi
đây, sạch sẽ, giản đơn và yên tĩnh tràn ngập. Mọi sự đón tiếp cũng ngắn gọn và
đơn giản. Điền thông tin cá nhân vào Bản đăng ký, xác nhận lại một lần nữa rằng
mình đã hiểu, đã chấp nhận sẽ tuân theo các qui tắc mười ngày - không nói,
không nhìn, không liên lạc với thế giới bên ngoài và các qui định ngặt nghèo
của thiền viện. Rồi đi nhận phòng, đưa một trăm rupi thế chấp để đảm bảo không
làm mất chìa khóa, thế thôi, không phải nộp bất cứ một khoản phí nào cả (bạn có
thể đóng góp tùy ý sau khi khóa học đã kết thúc). Và thế là họ tịch thu điện
thoại, máy ảnh và bắt cất tất cả tiền bạc cùng mấy thứ đó vào một cái phong bì,
ghi mã số, giập ghim, xếp ngăn nắp vào một cái thùng tôn to. Thế là hết! Chợt thấy hơi hoảng sợ như thế nào đó, cảm giác như
mình chuẩn bị đi tù (Để lại sau lưng con
nhỏ, rời nhà vào đúng chiều 30 Tết để tham dự một khóa học thiền, không biết có
phải là một quyết định kỳ cục?). Cả khu Thiền viện bỗng trở nên quá trống
trải, thênh thang. Chỉ có một hai nhánh đường nhỏ với những lối đi sạch sẽ lát xi
măng dẫn tới ba khu nhà ở. Xung quanh là vườn cây mới trồng còn thấp và thưa
lá. Mỗi khu biệt lập có hơn chục căn phòng nhỏ, mỗi phòng chỉ đủ cho một giường
cá nhân đơn sơ, một bệ xi măng để đồ, một chăn bông, một chăn dạ, một nhà vệ
sinh nhỏ xíu (ai đến sau thì sẽ bị xếp vào khu phải dùng chung phòng tắm), một
ô cửa sổ, rèm cửa màu xám, quay ra một cái sân xi măng chung, có một cây đèn
cao áp duy nhất đứng chơ vơ ở giữa sân. Ngày nào cũng như ngày nào, bọn mình được
khua dậy bởi tiếng chuông khe nhẽ mà kiên trì, cực kỳ chính xác của cô lớp
trưởng. 4h sáng dậy, 4h30 tất cả có mặt ở phòng thiền chung, ngồi đến 5h00 thì
đi ăn sáng. Từ 6h00 đến 11h00 ngồi thiền. 11h00 đến 11h30 ăn
trưa. Nghỉ trưa. Từ 1h00 đến 5h00 chiều lại ngồi thiền. Nghỉ 5phút sau mỗi tiếng
thiền sáng và chiều. 5h00 đến 6h00 ăn một bữa nhẹ mà họ gọi là tea-break. Sau
đó không ăn gì nữa. Từ 6h00 đến 7h00 ngồi thiền tiếp. Từ 7h00 đến 8h30 nghe
thầy Goenka[2]
giảng trong video. Trở về phòng thiền ngồi thêm nửa tiếng rồi trở về nhà. 9h30
đèn tắt. Mà nhìn chung đèn chỉ sáng rất yếu ớt và điện chỉ có khoảng một đến
hai tiếng là cùng vào các giờ mà học viên được nghỉ tại phòng. Thành ra mình làm
gì cũng phải rất nhanh gọn, có lần gội đầu không kịp sấy khô tóc! Nhờ có một chị
bạn đã đi học khóa này trước mình dặn dò nên mình mang theo một ít bánh qui và
một ít hạt khô để ăn thêm buổi tối cho đỡ đói. Rất buồn cười, đêm nào mình cũng
rúc rích như chuột vì phải ăn vụng trong bóng tối lờ mờ, và làm gì ở thiền viện
cũng phải rất khẽ. Mà hóa ra nhiều đứa cũng ăn vụng như mình cả. Có đứa chia sẻ
kinh nghiệm việc nó đã chia cái kẹo sôcôla của nó ra được mấy ngày. Ngày nào họ
cũng diễn món khoai tây hầm nhừ với cà rốt và một thứ rau chua chua đăng đắng
màu như cám lợn vậy. Hôm nào mà họ cho ăn hạt lúa mỳ xay nấu với sữa thì với
mình là một bữa tiệc. Khoái nhất là món gì đó nấu như xôi mà hạt gạo lại dẹt
mỏng hơn hạt cốm, tơi, khô, màu vàng nghệ… Buổi tối ngày đầu tiên, cứ như thể biết tỏng cơn đói khát của
học viên, thầy Goenka tủm tỉm cười (trong video) và nói: các bạn nên ăn ít
thôi, và ăn những thức ăn thanh sạch, ăn no dễ buồn ngủ, người nặng nề, làm sao
mà học thiền được. Và thầy dạy làm sao để áp dụng thiền vào tất cả mọi hoạt
động đời sống hàng ngày của bạn, tập trung quán sát, lắng nghe tự nhiên… Mình
để ý thấy phòng ăn lúc nào cũng mờ tối. Mọi thứ tối giản. Đồ ăn toàn bằng inox
nên khi vào phòng ăn tiếng mọi người chạm thìa vào đĩa cốc vang lên liên tục
khiến mình có cảm giác như đang ở nhà thương điên. Khi ăn, mình gắng ăn rất khẽ
để thìa không gây ra tiếng động, và mình thích điều đó - ăn trong hoàn toàn
tĩnh lặng, ít nhất là sự tĩnh lặng ở mình…
Mười ngày không ai được
nói với ai một lời nào, thậm chí trao đổi ánh mắt hay cử chỉ cũng không. Nam và nữ hoàn
toàn riêng biệt, chỉ ngồi thiền chung. Tất cả mọi người, ai cũng như ai đều hầu
hết thời gian hiện ra trong những cái khăn hoặc cái chăn lớn quấn quanh người
từ đầu tới chân. Sau chín ngày câm lặng, đến ngày thứ mười, ngày cuối cùng, khi
được nói chuyện với nhau, mình phát hiện ra được rất nhiều điều về mấy đứa học
cùng lớp ngồi gần mình. Thoạt tiên mình ấn tượng nhất với một con bé có vẻ như
là người Đông Âu, ở cái vẻ lặng lẽ, gầy guộc, trong vắt của nó. Con bé này
người cao và thẳng đuột, nó đi lại cứ như là một cái cây im phắc. Gương mặt nó
thanh thoát và thông minh. Hỏi ra, nó là người Nga pha Ấn và vừa mới học xong
đại học chuyên ngành tâm lý. Sau đó là con bé cùng phòng bên phải. Nó khiến
mình sờ sợ, trông nó trong bóng tối và khi hoàn tòan im lặng giống một con quỉ
xấu xí, nhăn nhó và tội nghiệp. Nó to sù trong chiếc áo bông trông tã tã. Mặt
nó đen đen đỏ đỏ, đôi bàn chân đi tất trông như bà già. Khi được nói với nhau,
mình cảm thấy như có một ánh sáng mở tấm màn vốn ngăn che trước mặt nó (hay là
trước mắt mình?) và mình thấy gương mặt nó không đến nỗi nào, và nước da kỳ cục
của nó là do nó là người Nigêria lai Ai-len, đang làm cho một tổ chức từ thiện Thiên
chúa giáo. Mình thấy nó ngốc ngốc với cái kiểu cười hí hí trẻ con. Đến khi hỏi
chuyện thêm, nó tình cờ nói: tao đang băn khoăn chẳng biết có nên về làm cho
một cơ quan chính phủ nào đó không mà nghĩ mãi chẳng ra, mà tao thì chẳng còn
bố mẹ để hỏi lời khuyên của họ. Bố mẹ mày
đâu? Bố mẹ tao chết cả rồi, tao chả còn ai thân thích trên đời, chả còn ai để
tao phải có trách nhiệm cả. Thế là mình ứa nước mắt. Một tình thương cảm
sâu sắc đối với đứa con to xác bơ vơ trên đời dấy khởi trong lòng mình. Và phát
hiện bất ngờ nhất là con bé ở phòng bên trái, ngồi thiền ở ngay bên cạnh. (Mỗi người phải ngồi một chỗ duy nhất, không
được thay đổi trong suốt mười ngày. Sau này, thầy mới giải thích: sắp xếp chỗ
ngồi cố định như thế là để mọi người học cách đi từ chấp nhận đến yêu thương
người bạn ngồi kế bên của mình). Con bé này khiến mình cứ băn khoăn: sao
tạo hóa có thể tạo ra một kẻ xấu xí đến vậy! Vô duyên đến vậy! Nó to đùng, béo
ệu, thuộc dòng Ấn độ da đen, mắt to dữ tợn, hai má chảy xị như ỉn. Lúc ngồi
thiền nó hay ngáy, hay gây tiếng động nhất do nó béo quá nên phải ngồi trên một
cái đệm chồng hai lớp nên cứ bị cọt kẹt cọt kẹt. Mình bực bội nghĩ: không hiểu
làm sao có thể có một ánh sáng giác ngộ nào lọt vào cái đống thịt này cơ chứ!
Lúc mới bắt đầu được nói chuyện, nó hào hứng nhao đến chào hỏi, nhưng mình đáp
lại nó hơi lạnh lẽo so với những đứa khác do chưa tỉnh thức gạt bỏ được hết mối
ác cảm cũ mà. Mãi đến những phút cuối cùng trước khi chia tay, mình phát hiện
ra nó là một con bé học về thần học, đang làm PhD. về energy medicine (y học năng lượng). Và nó tỏ ra hiểu biết
mọi chuyện một cách sâu sắc. Nó chỉ cho bọn mình nhìn một đôi mắt trên vỏ cây (cực kỳ giống), những nhánh cây hoa gì đó
mà nụ mầm của nó giống hệt một cái móng của một con vật để chứng minh rằng mọi
hiện hữu là MỘT... Thế đấy, mình thấy tất cả mọi điều đều là những bài học sâu
sắc thông qua những cảm giác và câu chuyện cụ thể trong mười ngày im lặng ở
thiền viện.
Thầy bảo, đóng góp lớn
nhất của Đức Phật đối với loài người là chỉ ra giai đoạn nào giữa cảm giác và
nhận thức là gốc rễ của ham muốn, gây đau khổ cho con người. Và phải tập thiền
là vì Phật học rất khoa học nhưng rất khác với khoa học ở chỗ, ta phải trải
nghiệm chân lý chứ không phải là nghiên cứu, biện giải. Thiền là giúp khám phá
chân lý qua chứng nghiệm chứ không được biến thành “trò chơi” với các cảm giác
và tâm trí thì mới là thiền nguyên thủy của Đức Phật. Trước mỗi giờ thiền bao
giờ thầy cũng tụng kinh bằng tiếng Pali rồi giảng bằng tiếng Anh. Suốt hai ngày
đầu bọn mình chỉ cố gắng làm sao cảm nhận được hơi thở ở chỗ nhân trung thôi!
Không hề dễ một chút nào nếu bạn là người mới tập. Không phải thở ra hít vào
một cách “kỹ thuật” kiểu người ta vẫn hay dạy cho bạn tập yoga mà thở một cách
tự nhiên nhất. Và dõi theo hơi thở ấy. Khi bạn thở hơi mạnh bạn biết rằng mình
đang thở hơi mạnh. Hơi thở ấm bạn biết rằng nó ấm… Không được làm bất cứ một
thứ gì khác, nghĩ bất cứ một thứ gì khác ngoài việc thở, thở, thở và thở. Rồi
những ngày sau đó bạn sẽ tập trung cảm nhận từng phần nhỏ trên cơ thể, cảm nhận
những biến đổi li ti nhất diễn ra trên cơ thể bạn, thoạt tiên là đỉnh đầu, rồi
lan dần tới từng ngón tay, ngón chân một cách thật chậm rãi và bàng quan. Với
mình, khó nhất là việc làm sao cảm nhận được những gì diễn ra trên/trong cơ thể,
trên từng milimet da thịt mình mà không được gọi nó lên bằng ngôn ngữ. Thầy
khuyên, khi mới tập thiền bạn nên chọn một nơi yên tĩnh trong phòng, chứ không
phải là ngoài thiên nhiên vì bạn chưa có đủ khả năng chú tâm. Tuyệt đối tĩnh
lặng, thậm chí cả ánh sáng cũng cần phải “tĩnh lặng” (ánh sáng tự nhiên đã được che bớt bởi những tấm rèm, dịu nhẹ, không quá
tối).
Có thể nói sự chịu đựng
khủng khiếp nhất trong mười ngày không phải là điều kiện sống kham khổ mà đó là
tập ngồi thiền. Trời ơi, trong hai ngày đầu tiên, mình cảm thấy đau đớn tới mờ
cả mắt, đau đớn toàn thân, cổ, bắp vai, và hai đôi chân, sau 30 phút chỗ khớp
chân này chồng lên chân kia trở thành như một mũi dùi xoáy sâu nhức nhối. Rồi mình
tự học được cách thả lỏng cơ thể ra sao, hiểu được lời thầy nói về mối dây liên
hệ giữa cảm giác và nhận thức về cảm giác ấy rồi đến đánh giá và nảy sinh cảm
xúc ra sao. Nếu không đánh giá và nảy sinh cảm xúc thích hay không thích thì
nỗi đau đớn sẽ biến mất như thế nào. Sự trải nghiệm tính vô thường của vạn vật trên
thân thể khiến cho người ta hiểu rõ và trực tiếp những vấn đề trừu tượng và tạo
nên một nhận thức mạnh mẽ hơn như thế nào. Khi bạn nhắm mắt lại và lặng câm
trong nhiều ngày, tập trung dõi theo các cảm giác của mình, không để cho tư duy
về cảm giác ấy được khởi lên cảm xúc thích-không thích, hiện thực ảo tưởng dần
dần biến mất, hiện thực đơn thuần hiện ra, và bạn chạm tới được bản nguyên của
mình, cái vùng tối đen sâu thẳm nhất, cái đã tạo ra bạn và toàn bộ thế giới
này. Anicha anicha anicha… (tiếng Pali
nghĩa là “tất cả đều vô thường), đấy là lời tụng đều đều và luôn luôn của
thầy Goenka trong các bài giảng. Khi một mình đi trong đoàn người câm lặng
những cái bóng đen, trong màn sương dâng lên hay buông xuống mỗi sáng sớm tinh
mơ hay tối muộn, lúc lặng ngắm khu thiền viện trắng muốt như một đóa sen dần
dần dâng lên trong biển sương trong ánh xám hồng của mặt trời hé rạng, sau
những ngày dài ngồi thiền, có đôi lúc thoáng qua mình bỗng có một cảm giác như
thể là hạnh phúc, như thể là yêu thương, cảm giác ấy tràn ngập lớn lao, chợt đến
và rồi biến mất. Vào những khoảnh khắc ấy, cùng một lúc, có vẻ như mình nhìn
thấy được tất cả các “hiện thực” mà không thể diễn tả được ra lời. Có phải đấy
chính là Sự thật, Chân lý (the Truth) đang mở ra trong một sự sáng sủa, tĩnh
tại, vô ngôn? Chỉ một thoáng thôi rồi vẻ huy hoàng đó biến mất. Thay vào đó là
tư duy và tiếp sau đó là các nghi ngờ và bối rối. Có phải đấy là lý do Phật nói
rằng bạn phải tự cảm nhận, rằng Chân lý không thể nói ra được, rằng con đường
vẫn ở đó, chỉ có điều bạn có đi hay không? Mình hiểu rằng người ta phải luyện
tập thiền thường xuyên là để trở nên sáng suốt, tỉnh thức, và giữ cho sự tỉnh
thức, vốn cũng như tất cả mọi điều khởi lên rồi mất đi, có thể ở lại lâu hơn
với mình? Chắc hẳn Đức Phật xưa kia đã hòa nhập được là một với dòng chảy duy
nhất vô thủy vô chung làm nên vũ trụ này? Mình đã hiểu vì sao họ bắt học viên
phải câm lặng hoàn toàn, ngoài việc tất nhiên khi ngồi thiền không được nghĩ,
chỉ tập trung vào hơi thở. Họ muốn giúp con người ta trong một thời gian, tự
tiêu diệt ngôn ngữ, công cụ đắc lực của tư duy, giúp họ cắt được một cây cầu
với hiện hữu ảo để cố gắng tìm về cái Duy nhất tận đáy sâu tiềm thức của con
người. Trong suốt quá trình mười ngày, mình đã học cách “dừng tâm trí”, ý nghĩ
nếu có chợt tới sẽ không được phép đào sâu, theo đuổi, cố gắng quay trở lại tập
trung vào hơi thở. Trong quá trình cố gắng như thế, mình nhận thấy các ý nghĩ
thường chỉ hiện ra với mình theo dạng các hình ảnh vụt hiện lên rồi biến mất,
đầy bất ngờ, ngẫu nhiên. Nhưng khi đêm về, tất cả các câu trả lời tự dưng trở
nên sáng sủa một cách nhanh chóng. Thông điệp của các hình ảnh đến với mình.
Những suy tưởng cũng vụt đến bất ngờ không theo trình tự. Tất cả, tất cả cuộc
đời của mình bao nhiêu năm nay chợt trở về qua các ký hiệu hình ảnh, gương mặt,
một chi tiết, những vết đi có ý nghĩa tác động vào đường đời… Và mình nhận ra, đúng
thật là mọi đau đớn hay sai lầm rốt cuộc đều có một nguyên nhân sâu sa từ một
ham muốn nào đó. Bước khởi đầu của cảm xúc sau giác ngộ đó là một nỗi hối hận,
đau đớn, tiếc nuối khôn tả, thậm chí là hoảng sợ về những lỗi lầm của mình đối
với chính cuộc đời mình. Rồi mình cố gắng tìm lại được sự “bàng quan” trước
“hiện thực” mới phát lộ này. Rồi mình hiểu được rõ hơn sai lầm của cách hiểu
thông thường từ “bàng quan” trong tư tưởng Phật giáo ra sao. Như thế nào là yêu
thương không vị kỷ. Vì sao phải giải thoát cái Tôi… Và rất nhiều nhiều khởi đầu
của trạng thái thường được gọi là “giác ngộ”.
Kỳ lạ ở chỗ, mười ngày
gian khổ, đau đớn qua đi đã trở thành một ký ức không thể nói lên lời, đọng lại
là cảm giác nhẹ bỗng, thanh sạch, tràn ngập yêu thương và hạnh phúc, đúng như
hình ảnh “mỗi bước đi nở nhẹ một cánh sen” vậy! Mười ngày ở thiền viện
Vipassana nếu có thể tóm gọn lại - bằng một danh từ, mình sẽ chọn - “một sự
chấn động tâm linh” và hai tính từ là - “khủng khiếp” và “tuyệt vời”. Mình mong
sao những người thân yêu của mình và tất cả những ai ai trên đời được biết đến “thiền
Vipassana”, để bước những bước đi đầu tiên trên con đường giải thoát.
Ghi chép tại New
Delhi , tháng 2/2011.
Hàm Anh
[1]
Vipassana: nghĩa trong tiếng Phạn cổ là Nhìn
mọi sự như nó vốn có, được đặt tên cho một dòng thiền được cho là theo
phương pháp nguyên thủy của Đức Phật.
[2]
S.N. Goenka sinh năm 1924, là một
nhà tư sản công nghiệp giàu có ở Miến Điện, đồng thời là một bậc thầy danh
tiếng của dòng thiền Vipassana. Ông mở hàng loạt các trung tâm dạy thiền
Vipassana rất thành công ở nhiều nước trên thế giới. Ông chủ trương Phật giáo
không phải là một đạo giáo mà là một con đường giải thoát mang tính phổ quát
không phân biệt đạo giáo, đức tin.
3,130w
No comments:
Post a Comment